Sách Mới

Liên Kết Đối Tác

Cai nghiện game

GIA ĐÌNH CÓ CON VỊ THÀNH NIÊN TRONG MỘT XÃ HỘI THÔNG TIN

Thứ năm, 27 Tháng 10 2011 23:28
In PDF.

BCV: BS. NGUYỄN MINH TIẾN (Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Tp.HCM)

ICT – CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

Có một tiên đề (axiom) rằng: “Con người không thể sống mà không giao tiếp”. Khoa học về truyền thông – giao tiếp hiện đại thừa nhận rằng con người không thể sống mà không trao đổi thông tin; không giao tiếp cũng là một cách giao tiếp. Thậm chí đến mức mỗi hành vi của con người cũng có thể đưọc xem như một thông điệp chứa đựng ý nghĩa. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT: Information Communication Technology) cùng sự ứng dụng lan rộng đến mức toàn cầu của các phương tiện này đã tạo nên những tác động lớn đến mức chúng có thể có ảnh hưởng và gây nên những thay đổi trong đời sống của loài người từ mức vĩ mô trên bình diện xã hội cho đến các sinh hoạt thường ngày của các cá nhân và gia đình. Công nghệ mới cho phép con người có khả năng tái sinh vô số các thông điệp, lưu lại được những điều con người không thể ghi nhớ hết và truyền các thông điệp đi rất nhanh, rất xa đến mức các khoảng cách không gian và thời gian trở nên không còn ý nghĩa nữa. Internet và các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) đang dần dần gây ảnh hưởng và làm biến đổi những phương thức giao tiếp trực tiếp theo kiểu truyền thống giữa người với người. Đã bắt đầu có những nghiên cứu về ảnh hưởng của một xã hội thông tin lên đời sống cảm xúc và những mối quan hệ của con người, nhưng vẫn chưa có nhiều những hiểu biết đầy đủ về ảnh hưởng mà những công nghệ mới ấy có thể gây ra trên sự phát triển của trẻ em và vị thành niên. ICT liệu sẽ mang lại những lợi ích gì và những nguy cơ gì cho đời sống tương lai của những đối tượng nhậy cảm ấy?

GIA ĐÌNH CÓ CON VỊ THÀNH NIÊN

Nói đến tuổi vị thành niên (VTN) là nói đến một giai đoạn có tính “bản lề” của một đời người – giai đoạn “sang trang” chuyển một người “từ chỗ là một thành viên của gia đình sang vị trí là một thành phần của nhóm và xã hội” (Mabey & Sorenson). Người viết dùng cách nói “người VTN” thay cho cách thông thường hay dùng là “trẻ VTN”, để nhấn mạnh các đặc trưng riêng biệt của lứa tuổi này, vì tuổi VTN tuy chưa là người lớn nhưng cũng không còn là trẻ em.

Gia đình có con ở tuổi VTN phải trải qua một giai đoạn có nhiều thách thức. Đã có nhiều nghiên cứu sâu và rộng liên quan đến chủ đề này. Trong khuôn khổ bài tham luận, người viết chỉ xin nêu vài ý sau:

(1)   Hệ thống gia đình phải “mở cửa” để giao lưu với các giá trị mới: Trong các gia đình mới tạo lập chưa có con và gia đình trong giai đoạn có con còn nhỏ, các thành viên thường có sự gia tăng gắn bó và ít nhiều cố gắng phát huy các thế mạnh từ những giá trị truyền thống, những giá trị mà bố mẹ được thừa hưởng từ gia đình nội và ngoại. Trái lại, gia đình có con đến tuổi VTN thường phải thay đổi theo chiều hướng ngày một cởi mở hơn, linh hoạt hơn để tiếp tục phát triển và thích nghi với môi trường xã hội vẫn luôn chuyển đổi không ngừng ở bên ngoài. Người VTN ngày càng trở nên độc lập hơn với bố mẹ, có thể tự do hơn trong việc “đi đi, về về”, mở dần lớp vỏ bảo bọc và kiểm soát của gia đình và hướng dần đến đời sống tự lập hơn sau này. Hoàn cảnh ấy dẫn đến sự giao lưu tất yếu giữa các giá trị vốn quen thuộc bên trong gia đình và những giá trị mới (hoặc lạ) hơn đến từ bên ngoài gia đình. Nói cách khác, khi gia đình có con đến tuổi VTN, các giá trị truyền thống vốn đang giúp đời sống ổn định trước đây thì nay phải chịu nhiều thách thức. Một kiểu mẫu hành vi mới hoặc một phương thức suy nghĩ mới cũng có thể khiến các thành viên trong gia đình trở nên không đồng thuận. Một số hoàn cảnh mới thậm chí còn thách thức cả các niềm tin và giá trị vốn có của gia đình, đôi khi đến mức phải định nghĩa lại một số khái niệm quan trọng chẳng hạn như “Thế nào là con ngoan?”, “Thế nào là có hiếu?”, “Thế nào là sống tốt?”, “Thế nào là một người trưởng thành, tự chủ?”, vv... 

(2)   Cơ cấu gia đình phải chuyển đổi: Gia đình phải chuyển đổi dần từ một cơ cấu có tính bảo bọc, dưỡng dục con còn nhỏ sang một cơ cấu phù hợp chức năng mới là chuẩn bị nền tảng cho sự trưởng thành của đứa con VTN – một sự trưởng thành không chỉ đơn thuần trên khía cạnh sinh học tự nhiên mà cả trên các khía tâm lý và xã hội nữa. Trong xã hội truyền thống ở giai đoạn “tiền công nghiệp”, gia đình có chức năng huấn nghiệp và truyền thụ kinh nghiệm làm việc cho người VTN. Trong xã hội hiện đại (giai đoạn công nghiệp và hậu công nghiệp), có sự chuyên biệt hóa sâu của các hoạt động xã hội, chức năng giáo dục kiến thức và đào tạo nghề nghiệp là thuộc về xã hội. Gia đình (cụ thể là bố mẹ và những người lớn khác) không còn truyền nghề mà chỉ truyền ý kiến về nghề nghiệp cho người VTN, mà đôi khi cả việc “truyền ý kiến” thôi cũng có thể không xảy ra được vì nhiều lý do khác nhau.

(3)   Gia đình theo dòng thời gian: Chúng ta cũng không quên rằng khi đứa con đến tuổi VTN với con đường vào đời đang mở rộng trước mắt, thì bố mẹ cũng đang bước vào (hoặc đang ở trong) giai đoạn tuổi trung niên – một lứa tuổi vừa đủ để có được những trải nghiệm sống phong phú, cũng vừa đủ để có thể cảm nhận được sự thành công hay không thành công trong cuộc đời mình. Cả hai lứa tuổi vị thành niên và trung niên đều có thể xuất hiện các khủng hoảng, và sự “cộng hưởng” có thể xảy ra giữa trạng thái khủng hoảng của hai thế hệ. Nhìn rộng lên các thế hệ trên, cũng không nên quên rằng thế hệ ông bà cũng bước vào tuổi lão niên, thậm chí có vị đã khuất, và điều này làm gia tăng các gánh nặng trách nhiệm có thể có đối với bố mẹ. Nói cách khác, khi bố mẹ của người VTN ở vào giai đoạn muốn nghiệm thu và phát huy các thành quả của đời sống, kỳ vọng nhiều vào sự phát triển ổn định của gia đình, thì họ phải đối mặt với nhiều yêu cầu mới, trách nhiệm mới có tính thách thức. Bố mẹ của người VTN do vậy phải thích nghi liên tục không chỉ với những đổi thay nội tại bên trong gia đình mà còn với cả những điều kiện sống, làm việc, tương tác với môi trường sống bên ngoài gia đình. Sự cố gắng thích nghi này có thành công hay không cũng góp phần quan trọng vào việc bố mẹ có giúp được người con VTN hình thành được bản sắc cá nhân vững vàng làm nền tảng cho sự trưởng thành và tự chủ về sau hay không. Trong những hoàn cảnh thách thức cao, các kiểu cách ứng phó của gia đình có lúc không hiệu quả, tình trạng khủng hoảng có khi trở nên nặng nề, mối quan hệ giữa các thế hệ và giữa các thành viên trong gia đình trở nên xung đột gay gắt, đôi khi đến mức khó thể hóa giải.

(4)   Bản sắc cá nhân và sự tự chủ: Giai đoạn tuổi VTN là giai đoạn có sự hình thành bản sắc của một cá nhân. Bản sắc cá nhân (identity) là những ý niệm, cách nhìn của một con người về những tính cách đặc trưng mà người đó cho rằng đã minh họa tốt nhất, đúng nhất về bản thân mình. Nói cách khác, đó là cách một người tự hình dung và cảm nhận về bản thân mình, từ đó hình thành bản ngã (self) làm nền tảng cho sự trưởng thành và tự chủ của người VTN sau này. Sự trưởng thành (về mặt tâm lý, xã hội) nhất thiết phải kèm với tính tự chủ (autonomy). Tính tự chủ là khuynh hướng sống tự dựa vào khả năng của chính mình và có thể đưa ra những quyết định độc lập. Hai trong số những quyết định quan trọng mà một người trưởng thành tự chủ phải thực hiện là (1) Chọn lựa một ngành nghề phù hợp và xây dựng sự nghiệp;  (2) Chọn lựa bạn đời và xây dựng gia đình. Bản sắc cá nhân và tính tự chủ được hình thành và phát triển thuận lợi trong môi trường gia đình lành mạnh. Đó là khi bố mẹ linh hoạt phối hợp một cách thành công giữa hai chức năng: vừa duy trì uy quyền và ảnh hưởng của mình đối với con, vừa có thái độ khuyến khích con tham gia ý kiến vào các quyết định trong gia đình. 

Sự tự chủ không đơn thuần chỉ là một khái niệm đối lập với sự lệ thuộc (dependence), và ngược lại không hẳn “không phụ thuộc” là đồng nghĩa với tự chủ. Có một khái niệm thứ ba đáng được xem xét và sẽ làm rõ thêm điều này, đó là khái niệm về sự “tương quan phụ thuộc” (interdependence), nghĩa là trong đời sống, một người không thể sống hoàn toàn độc lập theo nghĩa tách biệt mà luôn luôn có những mối quan hệ hỗ tương với người khác, sự tồn tại và lợi ích sống của người này “phụ thuộc” vào sự tồn tại và lợi ích sống của người khác. Theo nghĩa ấy, một người tự chủ vẫn luôn duy trì mối tương quan phụ thuộc với những người khác (bao gồm cả gia đình mình), và một mối quan hệ theo kiểu tương quan phụ thuộc chỉ được xây dựng tốt bởi những con người có tính tự chủ. Việc một người phải sống “lệ thuộc” vào người khác hoặc khi một người phải cắt đứt mối quan hệ giữa mình với những người khác sẽ làm mất khả năng người đó trở nên tự chủ, và vì thế hàm ý rằng một mối tương quan phụ thuộc cũng không được hình thành. Chính nhờ sự hình thành một bản sắc cá nhân rõ nét và tính tự chủ vững vàng mà người VTN có được những khả năng để xử lý các thông tin đến từ cuộc sống và hình thành những quyết định đúng đắn cho tương lai.

(5)   Vị thành niên trước ngưỡng cửa cuộc đời: Đứng trước ngưỡng cửa rộng mở vào đời với nhiều cơ hội và những khả năng lựa chọn muôn màu muôn vẻ, người VTN phải đương đầu với những thách thức lớn trong việc hình thành các quyết định. Người VTN phải tiếp nhận đủ và xử lý tốt các thông tin sao cho họ có thể có được những quyết định đúng. Các thông tin có thể đến từ hai nguồn quan trọng sau đây:

-          Kế thừa các giá trị truyền thống từ gia đình và tộc họ: Gia đình và tộc họ, thông qua cả quá trình dưỡng dục, sẽ “ủy nhiệm” cho đứa con VTN nghĩa vụ phải kế thừa và duy trì các giá trị truyền thống.

-          Thông tin từ môi trường xã hội bên ngoài gia đình: Những thông tin này luôn phong phú, đa dạng, và thay đổi theo thời cuộc. Người VTN phải thu thập và xử lý chúng thông qua cái “lăng kính” chính là những quan điểm sống dựa trên bản sắc cá nhân của chính mình. 

Những người “vượt ngưỡng” thành công thường tiếp thu và xử lý tốt các thông tin từ hai nguồn trên, dung hòa được những kỳ vọng từ gia đình, kỳ vọng từ xã hội và những khuynh hướng sống của cá nhân mình. Nói cách khác, ở một người thành công trong quá trình đạt đến sự tự chủ, sẽ không xảy ra nhiều xung khắc lớn giữa “cái mà tôi đang là” với “cái mà tôi muốn tôi sẽ là”, hoặc giữa “cái mà tôi muốn tôi là” với “cái mà người khác muốn tôi là”. Nhưng thực tế thường không đơn giản như thế.

NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA MỘT XÃ HỘI THÔNG TIN

Đến đây, người viết xin đề cập đến chủ đề về xã hội thông tin – khái niệm, vai trò và sau đó sẽ nói đến những ảnh hưởng của nó đối với đời sống gia đình có con VTN cũng như sự hình thành tính tự chủ của người VTN. 

Xã hội thông tin (information society) là hình thái xã hội trong đó sự hình thành, sử dụng, phân phối, lưu truyền, tổng hợp và xử lý thông tin là những hoạt động có nhiều ý nghĩa và mang lại những tác động to lớn trên tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội như kinh tế, chính trị và văn hóa.

Chưa có định nghĩa nhất quán về thế nào là một xã hội thông tin. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều nhất trí rằng đã có sự chuyển đổi dần dần từ xã hội cũ (tiền công nghiệp hoặc công nghiệp) sang hình thái xã hội thông tin từ khoảng thập niên 1970 và cho đến nay điều đó đã làm nên những biến đổi căn cơ về phương thức vận hành của xã hội. Xã hội mạng (network society), xã hội tri thức (knowledge society), xã hội hậu công nghiệp (post-industrial society) hoặc xã hội hậu hiện đại (post-modern society) là những tên gọi khác của xã hội thông tin, một kiểu xã hội hoàn toàn mới với hai tính chất đặc trưng lớn là toàn cầu hóa (globalization) và thông tin hóa (informatization).

Phương thức lao động phi vật thể (immaterial labour) dần dần phát triển tạo ra các sản phẩm tri thức và văn hóa có tính kinh tế cao. Cũng từ đó xuất hiện nền kinh tế tri thức (knowledge economy) nghĩa là khi phúc lợi được tạo nên từ sự khai thác khía cạnh kinh tế của sự hiểu biết (tri thức sinh ra lợi ích kinh tế). Ngay cả những kiến thức, hiểu biết mà trẻ em tiếp thu qua học tập cũng có thể được hình dung thành khái niệm “tư bản xã hội” (social capital), vì đó chính là phần “vốn” đang được tích lũy để đầu tư cho mục đích kinh tế sau này. Xã hội thông tin không chỉ ảnh hưởng đến cách thức tương tác giữa người với người, nó còn đòi hỏi những cách thức tổ chức xã hội theo truyền thống phải trở nên cởi mở hơn, linh hoạt hơn, mở rộng dư luận với nhiều người dự phần hơn và đang có xu hướng tiến đến một xã hội thông tin toàn cầu (global information society).

Sự tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đã làm thay đổi nhanh chóng phong cách sống của con người trên phạm vi toàn thế giới. Những cách thức làm việc, cách tạo dựng cơ nghiệp, cách giáo dục con cái, cách học tập và nghiên cứu, cách thức tự rèn luyện bản thân, cho đến cả cách thức vui chơi, giải trí... tất cả đều đang dần thay đổi. Bên cạnh các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) vốn đã phát triển trong nhiều thập niên nay, mạng internet đã trở thành một kênh dẫn thông tin phổ biến và hiệu quả trong xã hội thông tin. Cũng trên mạng internet, đã hình thành nên một “không gian điều khiển học” (cyber space) trong đó xảy ra một kiểu thức giao tiếp mới giữa con người với nhau: giao tiếp qua mạng. Từ điển tiếng Anh có thêm một từ mới: Nettizen, nghĩa là “cư dân mạng”. Cộng đồng cư dân mạng được hình thành cũng dựa trên nhu cầu cần được truyền thông, giao tiếp với nhau, vượt qua những biên giới, rào cản tự nhiên về không gian, địa lý, ngôn ngữ, văn hóa... Những cư dân mạng sẽ trở thành những sứ giả giúp truyền đi cũng như lưu giữ lại những giá trị, những ý tưởng hoặc những khuôn mẫu hành vi, và tiến trình trao đổi thông tin có thể thực hiện không hạn chế thông qua không gian mạng. Internet ngày càng trở thành một nguồn thông tin và kho lưu trữ kiến thức quan trọng trên thế giới, và đang dần trở thành một công cụ có tầm ảnh hưởng lớn lao trên tiến trình học tập, phát triển và xã hội hóa của con người trong thời kỳ hậu hiện đại.

CÁC NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU

Mạng Infoyouth của UNESCO (Mạng thông tin toàn cầu của UNESCO, cung cấp thông tin cho các chính phủ, các cơ quan, tổ chức phụ trách các vấn đề về vị thành niên và thanh niên) đã bước đầu công bố các kết quả nghiên cứu về tác động của ICT trên đời sống gia đình của người VTN. Sự phát triển của xã hội thông tin đã làm thay đổi các tương tác và quan hệ giữa các thành viên bên trong gia đình. Khi cha mẹ ngày càng ít dành thời gian cho con cái hơn, những đứa con sẽ có khuynh hướng tiếp cận đến công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông sẵn có nhiều hơn. Ở một số gia đình, ti-vi, điện thoại và màn hình vi tính là nơi trẻ thực hiện các tương tác, giao lưu với xã hội, hoặc (nói theo ngôn ngữ trong thời kỳ kinh tế tri thức) đó là những công cụ chủ yếu giúp trẻ em “tích lũy tư bản xã hội”. Một hệ quả không hay đó là khi gia tăng sử dụng công nghệ thông tin, con người sẽ có khuynh hướng giảm thiểu các tương tác trực tiếp trong gia đình. Một số trẻ em có thể đến ôm lấy màn hình vi tính nhanh hơn đến ôm bố mẹ (!) Và trong nhiều trường hợp, bố mẹ bị giảm hoặc mất đi khả năng kiểm soát những nguồn thông tin mà trẻ thu nhận được từ môi trường bên ngoài. Tất cả trẻ em đều cần có một giai đoạn tiếp nhận “tư bản xã hội ban đầu” từ bố mẹ và gia đình, trước khi tiếp nhận thông tin từ nguồn gốc bên ngoài. Đó chính là các quy tắc sống, các giá trị và quy chuẩn mà ngay trong những năm đầu đời trẻ cần học hỏi trước tiên là từ bố mẹ và người thân, sau đó là từ thầy cô và môi trường sống bên ngoài. Việc giảm tương tác bố mẹ và con cái, đồng thời cho trẻ tiếp xúc sớm công nghệ thông tin có thể làm mất đi lợi ích của giai đoạn này.

Trong hai năm 2001-2002, một nghiên cứu đã được tiến hành ở Phần Lan (do Ủy ban Vì Tương Lai, thuộc Quốc hội Phần Lan điều hành, thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của GS. Lea Pulkkinen, Trung tâm Agora, Đại học Jyvaskyla) nhằm phân tích ảnh hưởng của công nghệ thông tin lên sự phát triển kỹ năng xã hội cũng như sự tiếp nhận “tư bản xã hội” ở trẻ em. Nghiên cứu cho thấy: Ảnh hưởng của công nghệ thông tin lên đời sống của trẻ em và VTN như thế nào là tùy thuộc vào tính chất của sự hỗ trợ của môi trường xã hội dành cho các lứa tuổi này. “Một con người sẽ tích lũy đầy đủ tư bản xã hội khi người đó là một thành viên đáng tin cậy trong cộng đồng và có khả năng giao lưu, tương tác với các thành viên khác trong cộng đồng”.

Có một điều tốt ở đây: Trẻ em thường có khuynh hướng chia sẻ và trao đổi với bố mẹ các thông tin mà các em lấy được từ media(gọi chung cho các nguồn thông tin từ truyền thông đại chúng và cả internet) cũng như từ môi trường sống thực tế bên ngoài gia đình, miễn là bố mẹ cũng nhiệt tình lắng nghe và chia sẻ với trẻ. Và trong thực tế, khi gia đình có con đến tuổi đi học, đặc biệt là con ở lứa tuổi VTN, bố mẹ cũng cần lắng nghe và trao đổi thông tin với con vì bản thân bố mẹ cũng cần phải “giao lưu” với các thông tin và các giá trị mới từ bên ngoài (cả thế giới thật, lẫn thế giới “ảo” từ media).

Hơn nữa, sự hướng dẫn của bố mẹ vẫn luôn là một điều cần thiết, do bởi không phải tất cả mọi điều thu nhận từ internet và truyền thông đều thích hợp với trẻ em và VTN, mà đôi khi cũng có những thứ gây nhầm lẫn và khó hiểu với cả người lớn. Thông tin từ internet cũng có những nguy cơ đối với sự phát triển cảm xúc và phát triển kỹ năng xã hội ở trẻ em và VTN. Đặc biệt đối với những trẻ em và VTN có vấn đề yếu kém về kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội, nghiên cứu nhận thấy những “tương tác ảo” trên mạng (dưới hình thức chat, các gallery hình ảnh, phim, clip sex, game...) có thể tạo nên những sự tưởng thưởng mạnh mẽ hơn nhiều so với khi những trẻ em và VTN ấy thực hiện những tương tác thật với người khác trong đời sống thực tế. Đó cũng chính là điều kiện góp phần hình thành sự gắn kết của trẻ em và VTN với phương thức tương tác trên mạng. Nghiên cứu cũng cho thấy trẻ trai và nam giới nói chung thích sưu tầm thông tin, games và các tương tác ảo nhiều hơn nữ. Nữ giới sử dụng điện thoại và các hình thức giao tiếp gần với truyền thống nhiều hơn nam.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng nhận thấy những đóng góp tích cực của công nghệ thông tin đối với trẻ em và VTN. Kết luận từ các nghiên cứu cho rằng: Bất kể những khác biệt nền tảng về kỹ năng xã hội và giới tính của trẻ như thế nào, tất cả trẻ em và VTN đều phải được dạy những kiến thức và kỹ năng cơ bản về công nghệ thông tin và phải được tạo cơ hội để tiếp cận, sử dụng loại công nghệ này, vì những mục đích tìm kiếm thông tin trong học tập, để giao lưu cũng như để giải trí. Game nếu được cấu trúc tốt, có tính giáo dục, vẫn có thể góp phần giúp trẻ em và VTN “tích lũy tư bản xã hội”. Việc giao lưu trên không gian mạng giúp trẻ gia tăng trao đổi thông tin và sáng tạo nên một “cộng đồng ảo” tồn tại song song với một cộng đồng truyền thống, trong đó vẫn duy trì những tương tác thực sự giữa người với người.

Các nhà nghiên cứu do vậy đã đề xuất việc xã hội sẽ hỗ trợ đầy đủ cho bố mẹ sao cho họ có thời gian dành cho việc cùng tham gia với con cái trong việc sử dụng media hoặc trao đổi về các thông tin lấy được từ đó; cung cấp đủ các dịch vụ hướng dẫn về sử dụng ICT cho cả trẻ em, VTN và bố mẹ (các dịch vụ này phải được bao cấp hoặc được tài trợ để tránh tăng các phí tổn cho gia đình) và phát triển hình thức hỗ trợ đồng đẳng giữa trẻ với trẻ, VTN với VTN về sử dụng ICT hiệu quả. Các đề xuất này chung cuộc đều hướng đến phát huy những hiệu quả của công nghệ thông tin trong đời sống của một xã hội thông tin mà vẫn chú ý không làm mất đi các phương thức giao tiếp và tương tác trực tiếp giữa người với người vốn đã rất hiệu quả và có tác dụng lưu truyền những giá trị tốt đẹp trong các hình thái xã hội truyền thống. Theo thiển ý của người viết, đó cũng là cách góp phần khuyến khích tính tự chủ của người VTN đang chuẩn bị bước vào đời, đồng thời cũng giúp hình thành và củng cố mối quan hệ tương quan phụ thuộc giữa người VTN với gia đình và người thân của mình.

ĐÔI LỜI KẾT

Việt Nam đã và đang trong giai đoạn chuyển từ xã hội tiền công nghiệp sang xã hội công nghiệp. Trong tiến trình hội nhập và phát triển, tất nhiên Việt Nam cũng chịu những tác động nhất định từ xu hướng thông tin hóa và toàn cầu hóa hiện nay trên thế giới. Nhất là khi Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển ICT thuộc hàng nhanh chóng trên thế giới. Sự trao đổi thông tin và giao lưu văn hóa ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn, vừa tạo cơ hội cho phát triển, vừa mang lại những thách thức cho những khuôn mẫu tư duy, cách thức ứng xử, cùng bản sắc và các giá trị truyền thống. Trong quá trình ấy, tất nhiên cũng sẽ có những yêu cầu cấp thiết được đặt ra cho từng gia đình và từng con người trong xã hội Việt Nam sao cho có thể tạo được sự quân bình giữa bảo tồn, lưu giữ bản sắc và các giá trị truyền thống với sự linh hoạt thay đổi để thích nghi với những điều kiện phát triển mới. Hình ảnh ấy của cả đất nước nếu thu nhỏ lại cũng có khá nhiều điểm tương đồng với hoàn cảnh của một gia đình có con đến tuổi VTN như đã mô tả ở những phần đầu của bài viết.

Việc nghiên cứu ở Việt Nam hẳn là rất cần thiết để khảo sát những ảnh hưởng của xã hội thông tin lên đời sống và các mối quan hệ trong gia đình Việt Nam nói chung, đặc biệt là trên sự phát triển tính tự chủ và khả năng trưởng thành của người VTN Việt Nam nói riêng. Người viết không dám lạm bàn về các lĩnh vực nghiên cứu vĩ mô, đó là công tác của những nhà nghiên cứu xã hội học. Trong góc nhìn của người làm thực hành và giảng dạy tâm lý lâm sàng, người viết chỉ đóng góp bài viết có tính khái quát này cho nội dung chung của hội thảo, và về phần mình sẽ sử dụng các kiến thức ấy vào công việc trị liệu, hỗ trợ tâm lý cho những ca lâm sàng ở lứa tuổi trẻ em và VTN trong thực tiễn làm việc của bản thân.

Tham luận Hội thảo về Nghiện Game Online tại Đồng Nai – Ngày 6-8-2009

Nguồn: www.tamlytrilieu.com

 

Trang 8 của 27

<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>
..............CÁC ĐỐI TÁC